Bài viết thuộc về bross.vn
Khi nói đến sở hữu trí tuệ là người ta nói đến những sáng tạo của trí óc mà sản phẩm là các phát minh sáng chế, các tác phẩm văn học hay nghệ thuật, những biểu tượng, các tên gọi, hình ảnh, và thiết kế sử dụng trong thương mại. Như vậy, quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử là gì và có tác dụng gì trong đời sống xã hội hiện nay?
Bản chất pháp lý của bản quyền
Quyền tác giả là độc quyền ngăn cản người khác sao chép tác phẩm văn học nghệ thuật do tác giả sáng tạo, cũng như quyền kiểm soát khả năng tác phẩm này được xuất bản, xuyên tạc, cắt xén, trích dẫn, cung cấp cho công chúng, truyền đạt tới công chúng, thực hiện, hoặc sửa đổi theo cách khác mà không có sự cho phép của tác giả hoặc các bên liên quan. Chẳng hạn, phim Trạng Tý phiêu lưu ký (Trạng Tý phiêu lưu ký ) được chuyển thể từ bộ truyện tranh nổi tiếng Thần Đồng Đất Việt của họa sĩ Lê Linh nhưng thuộc sở hữu của Công ty TNHH Phan Thị.
Quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền kinh tế. Quyền nhân thân với tư cách là quyền phi kinh tế bao gồm 3 loại độc quyền là quyền công bố, quyền ghi công (gọi là quyền quan hệ cha con) và quyền toàn vẹn, trong đó quyền công bố được bảo hộ trong một thời hạn nhất định và có thể chuyển nhượng nhưng các quyền khác hai là vĩnh viễn được bảo vệ và không thể chuyển nhượng.
Tác giả, chủ thể quyền cũng có các quyền, với tư cách là quyền kinh tế, kiểm soát các hoạt động khai thác tác phẩm dưới hình thức sao chép, làm tác phẩm phái sinh, phân phối, cho thuê, biểu diễn, truyền đạt tới công chúng. Ví dụ: cố nhà thơ Hữu Loan, tác giả bài thơ nổi tiếng ” Màu tím hoa sim ” được ghi nhận là tác giả của bài thơ này, nhưng người thừa kế của ông không còn là chủ sở hữu của bài thơ này. bản quyền vì anh đã chuyển nhượng toàn bộ quyền sở hữu bản quyền cho Công ty Vitek VTB với giá 100 triệu đồng.
Tiêu chí bảo hộ quyền tác giả
Quyền tác giả luôn gắn liền với một tác phẩm văn học nghệ thuật cụ thể, chẳng hạn như tác phẩm viết (truyện tranh, tiểu thuyết, thơ, phần mềm), tác phẩm điện ảnh, tác phẩm kiến trúc, tác phẩm mỹ thuật ứng dụng (logo, bộ nhận diện thương hiệu)… Quyền tác giả đương nhiên được bảo hộ bất kể về chất lượng, nội dung và không đăng ký miễn là tác phẩm đáp ứng 2 điều kiện:
(1) Yêu cầu cố định : nó được thể hiện trong thế giới vật chất dưới dạng ghi chú viết tay, hồ sơ, ảnh chụp, v.v., hay nói cách khác là nó đã được cố định trong một phương tiện biểu đạt hữu hình;
(2) Yêu cầu về tính độc đáo : nó được tạo ra bởi chính tác giả.
Ai là chủ sở hữu đầu tiên của tác phẩm có bản quyền ?

Người trực tiếp sáng tạo tác phẩm văn học, nghệ thuật chưa chuyển giao quyền tài sản cho người khác vừa là tác giả, vừa là chủ sở hữu tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả đó. Tuy nhiên, trong trường hợp tác phẩm được thực hiện trên cơ sở hợp đồng ủy thác (nhà thầu độc lập), hợp đồng lao động hoặc hợp đồng chuyển nhượng, thì các bên ủy thác, chủ lao động hoặc người được chuyển nhượng sẽ mặc định trở thành chủ sở hữu bản quyền đầu tiên, trừ khi có thỏa thuận khác bởi các bên. Bất chấp thực tế này, quyền làm cha và quyền toàn vẹn trước khả năng không ghi công, xuyên tạc, cắt xén tác phẩm sẽ đồng hành vĩnh viễn với tác giả. Chẳng hạn, họa sĩ Lê Linh chỉ là tác giả bộ truyện tranh Thần Đồng Đất Việt vì chủ sở hữu bản quyền đã mặc nhiên được giao cho Công ty TNHH Phan Thị theo hợp đồng lao động.
Thời hạn bảo hộ bản quyền
Ngoại trừ quyền ghi công và quyền toàn vẹn được bảo vệ vĩnh viễn và không thể chuyển nhượng, thời hạn bảo hộ của tác phẩm có bản quyền khác nhau tùy thuộc vào loại tác phẩm. Cụ thể, đối với hầu hết các tác phẩm văn học nghệ thuật, các quyền kinh tế được bảo hộ trong suốt cuộc đời tác giả cộng thêm 50 năm sau khi tác giả chết. Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh và tác phẩm mỹ thuật ứng dụng được bảo hộ trong thời hạn 75 năm kể từ ngày công bố lần đầu tiên hoặc 100 năm kể từ ngày định hình nếu chúng không được công bố trong thời hạn 20 năm.
Thực thi bản quyền
Ngoại trừ những hạn chế và ngoại lệ được nêu trong phần cuối cùng bên dưới, các hành vi chiếm đoạt, mạo danh, xuất bản trái phép, xuyên tạc tác phẩm, sao chép, phân phối, cho thuê, truyền đạt tới công chúng, biểu diễn, v.v. mà không được phép của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả, sẽ bị coi là vi phạm bản quyền.
Hành vi vi phạm bản quyền có thể bị xử lý hành chính với mức phạt lên tới 500 triệu đồng, hoặc khởi kiện dân sự không giới hạn thiệt hại tùy theo thiệt hại thực tế, thậm chí có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức phạt lên tới 1 tỷ đồng. đồng hoặc phạt tù đến 3 năm.
Sử dụng hợp lý
Luật SHTT công nhận một số trường hợp đặc biệt được coi là ngoại lệ hoặc giới hạn (sử dụng hợp lý) không vi phạm bản quyền nếu tuân thủ kiểm tra ba bước. Cụ thể, hành vi sao chép, trích dẫn, trình diễn, ghi âm tác phẩm đã công bố sẽ không bị coi là vi phạm bản quyền kể cả khi không xin phép, không trả tiền bản quyền cho tác giả với điều kiện các hành vi trên không mâu thuẫn với việc khai thác thông thường tác phẩm , đồng thời không gây phương hại một cách vô lý đến lợi ích hợp pháp của tác giả. Ví dụ: tự sao chép một bản để nghiên cứu khoa học, trích dẫn tác phẩm một cách hợp lý mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa cho tác phẩm của mình, chụp ảnh các công trình kiến trúc trưng bày ở nơi công cộng để giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó.


